Thứ Ba, 29/9/2020 - 16:49:38 Đường dây nóng: 096 774 2199 Liên hệ quảng cáo: (024) 6282 2201 Cơ quan: (024) 6282 2100 Email: kiemtoandientu@sav.gov.vn

Kiểm toán các tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước: DNNN cần khắc phục nhiều hạn chế, bất cập

THỨ NĂM, 08/09/2016 10:00:00 | QUA KẾT QUẢ KIỂM TOÁN
(BKTO) - Từ kết quả kiểm toán năm 2015 về niên độ tài chính 2014 của 234 DN thuộc 38 tập đoàn, tổng công ty, công ty cho thấy, các DNNN cần phải nỗ lực để vượt qua khó khăn, đồng thời khắc phục, chấn chỉnh nhiều tồn tại, hạn chế để hướng tới mục tiêu sản xuất, kinh doanh hiệu quả, góp phần vào việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế.


Nhiều khoản đầu tư tài chính của các DNNN không đem lại hiệu quả Ảnh: TS

Hiệu quả hoạt động của nhiều DN giảm sút

Năm 2014, có 33/38 tập đoàn, tổng công ty, công ty được kiểm toán kinh doanh có lãi, bảo toàn được vốn, tiếp tục đóng góp vào phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, 5 tập đoàn, tổng công ty, công ty kinh doanh thua lỗ, một phần nguyên nhân là do áp lực cạnh tranh đến từ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao đã tác động đến sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty, công ty (sau đây gọi chung là DNNN). Khó khăn càng lớn hơn khi hoạt động của DN đặt trong bối cảnh năm 2014, kinh tế thế giới đã phục hồi chậm hơn dự báo, còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế có bước phục hồi nhưng môi trường kinh doanh và năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.

Tuy nhiên, bên cạnh các nguyên nhân khách quan này, thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN đã chỉ ra hàng loạt nguyên nhân chủ quan tác động đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các DNNN. Nhiều DNNN quản lý nợ chưa chặt chẽ dẫn đến nợ phải thu quá hạn, nợ khó đòi lớn; một số đơn vị xóa nợ chưa đủ điều kiện, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi không đúng quy định; chưa ban hành Quy chế quản lý các khoản nợ phải thu; nợ tạm ứng tồn đọng nhiều năm với số tiền lớn chưa được thu hồi.

Một số DNNN quản lý, sử dụng hàng tồn kho chưa hiệu quả, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho chưa đúng quy định. Bên cạnh một số khoản đầu tư tài chính mang lại hiệu quả thì nhiều khoản vốn góp của DNNN vào những DN khác có tình trạng tài chính xấu, có nguy cơ ngừng hoạt động hoặc phải giải thể, nhất là một số khoản đầu tư của Vinalines vào các công ty vận tải, công ty khai thác cảng; PVN đầu tư vào công nghiệp đóng tàu, đầu tư tài chính; Vinaincon đầu tư vào xi măng, thủy sản; Hapro đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết; Vinataba đầu tư vào thực phẩm, xuất - nhập khẩu…

Đa số các DNNN được kiểm toán đã ban hành Quy chế giám sát tài chính và hiệu quả hoạt động, công khai tài chính, nhưng hầu hết các DN phản ánh không đúng doanh thu, chi phí. Hoạt động kinh doanh của nhiều DN chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn chiếm dụng, dẫn đến hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao. Các DNNN có hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản đều còn dự án chậm tiến độ, một số dự án phải tạm dừng triển khai, gây lãng phí vốn đầu tư. Nhiều DN sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích diện tích đất đang được quản lý.

Cần quyết liệt hơn trong tái cơ cấu DNNN

Kết quả kiểm toán Chuyên đề việc thực hiện Đề án Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 cho thấy, đến 31/12/2014 đã có 319 DN và bộ phận DN được sắp xếp lại (cụ thể đã cổ phần hóa 260 DN; sáp nhập, hợp nhất 34 DN; giải thể 9 DN; phá sản 6 DN; bàn giao 6 DN), đạt 52% kế hoạch. Số vốn nhà nước tại các DN theo giá trị sổ sách đã được thoái là 11.329 tỷ đồng, thu về 16.346 tỷ đồng, bằng 1,4 lần giá trị sổ sách. Trong đó, riêng các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm thoái được 4.886 tỷ đồng, thu về 5.493 tỷ đồng.

Trong giai đoạn 2011-2015, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý đáp ứng yêu cầu thực tế thực hiện Đề án, gồm 16 Nghị định, Quyết định về các cơ chế chính sách đổi mới tổ chức, quản lý và hoạt động đối với DNNN; 6 Nghị định, Quyết định về các cơ chế chính sách tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn tại DN.

Tuy nhiên, việc thực hiện Đề án còn chưa đáp ứng yêu cầu và kế hoạch đề ra về tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn; công tác chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN về SCIC; hiệu quả sản xuất kinh doanh tại một số DN chưa cao… do hạn chế trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện Đề án của các cơ quan có thẩm quyền và DN. 

Cụ thể, về phía các cơ quan có thẩm quyền, việc phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu còn thiếu chuyên nghiệp, chưa tách biệt giữa chức năng chủ sở hữu nhà nước với các chức năng quản lý nhà nước. Sự phối hợp giữa các Bộ, cơ quan T.Ư, UBND các tỉnh, thành phố với SCIC chưa tốt. Quy định về sắp xếp, phân loại DN có vốn nhà nước thuộc diện chuyển giao trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, dịch vụ công ích chưa rõ ràng. Cơ quan chức năng chưa tổng kết, đánh giá việc thí điểm giao cho Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TP. HCM thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DN đã cổ phần hóa thuộc UBND TP. HCM để có định hướng rõ ràng…

Đối với các DN, KTNN cũng chỉ ra nhiều bất cập như: DN xây dựng đề án chưa sát với tình hình thực tế… làm chậm tiến độ thực hiện; tái cơ cấu về ngành, nghề kinh doanh chưa triệt để, chưa chấm dứt tình trạng đầu tư ra ngoài ngành; ngành, nghề chính còn trùng lặp. Còn có trường hợp DN chưa thực hiện tái cơ cấu tài chính nên chưa xử lý được các tồn tại, không tự cân đối được nguồn trả nợ, chưa cấp đủ vốn điều lệ. Việc thoái vốn của nhiều DN còn chậm, không đảm bảo theo lộ trình; còn trường hợp thoái vốn trong nội bộ hoặc chuyển nhượng giữa các DNNN với nhau. Thực hiện tái cơ cấu về tổ chức sản xuất kinh doanh nhưng vẫn còn tình trạng cạnh tranh nội bộ và chưa có sự liên kết giữa các DN thành viên, chưa thực hiện chuyên môn hóa, phân công, hợp tác triệt để… 

Để quá trình tái cơ cấu DNNN đạt được mục tiêu theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ, KTNN đã kiến nghị các Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nước rà soát, tiếp tục tổ chức thực hiện Đề án đã được phê duyệt, nghiêm túc rút kinh nghiệm và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan đến những tồn tại, hạn chế để xử lý theo quy định…

HỒNG THOAN

Bình Luận

Vui lòng nhập nội dung bình luận.

Tin cùng chuyên mục

Kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2018: Kỳ I - Bất cập từ khâu lập và giao dự toán

Kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2018: Kỳ I - Bất cập từ khâu lập và giao dự toán

(BKTO) - Kết quả kiểm toán năm 2019 đối với niên độ ngân sách năm 2018 của KTNN tiếp tục chỉ ra nhiều bất cập, hạn chế đã diễn ra nhiều năm nay, trong đó có tình trạng lập dự toán thu, chi NSNN không sát thực tế; giao dự toán chậm, không đúng đối tượng và khả năng đáp ứng của NSNN…

Tin mới

  • Phát triển bền vững năng lượng quốc gia: Bài 1 – Chuyển dịch cơ cấu năng lượng

    Phát triển bền vững năng lượng quốc gia: Bài 1 – Chuyển dịch cơ cấu năng lượng

    (BKTO) - Trong giai đoạn vừa qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, tương đối đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực và phân ngành năng lượng, bám sát định hướng phát triển năng lượng của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, năng lượng quốc gia vẫn còn nhiều hạn chế, mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đối mặt với nhiều thách thức, vì vậy việc chuyển dịch cơ cấu năng lượng là cần thiết. Chuyển dịch năng lượng là sự thay đổi chính sách, cơ cấu, công nghệ ngành năng lượng từ sản xuất, tiêu thụ các nguồn nhiên liệu hóa thạch truyền thống như than, dầu, khí tự nhiên sang các nguồn năng lượng tái tạo bền vững như gió, mặt trời, sinh khối...

     1 giờ trước

Sự Kiện nổi bật

Chuyên đề

 Thời tiết
Các ấn phẩm Báo Kiểm toán

Liên hệ đặt báo: (024) 6282 2201